Từ 2026, dự án đầu tư ra nước ngoài dưới 7 tỷ đồng không phải thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận

  • Từ 2026, dự án đầu tư ra nước ngoài dưới 7 tỷ đồng không phải thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận
    11 Apr

    Từ 2026, dự án đầu tư ra nước ngoài dưới 7 tỷ đồng không phải thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận

    Theo Điều 18 Nghị định 103 năm 2026 quy định về hoạt động đầu tư ra nước ngoài, Nhà đầu tư chỉ cần thực hiện thủ tục đăng ký giao dịch ngoại hối theo quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối mà không phải thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài đối với dự án thuộc một trong các trường hợp sau đây:

    1. Dự án đầu tư ra nước ngoài có mức vốn đầu tư ra nước ngoài nhỏ hơn 7 tỷ đồng và không thuộc ngành, nghề đầu tư ra nước ngoài có điều kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 41 Luật Đầu tư (ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán, báo chí phát thanh truyền hình, bất động sản).

    2. Dự án đầu tư ra nước ngoài gắn với quốc phòng, an ninh triển khai theo thỏa thuận giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ các nước theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 42 Luật Đầu tư. Thỏa thuận là hiệp định giữa hai Chính phủ hoặc các văn bản thỏa thuận giữa các cơ quan hai nước được Chính phủ phê duyệt.

    3. Dự án đầu tư ra nước ngoài của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước thuộc danh mục các tập đoàn, tổng công ty nhà nước quy định tại Phụ lục I của Nghị định số 366/2025/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2025 của Chính phủ về quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp.

    4. Dự án đầu tư ra nước ngoài không thuộc diện báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, chấp thuận theo quy định tại khoản 2 Điều 17 Nghị định này của các tổ chức kinh tế khác theo quy định tại điểm c, khoản 3 Điều 42 Luật Đầu tư đáp ứng các điều kiện sau:

    a) Doanh nghiệp có quy mô lớn theo quy định tại Nghị định số 90/2025/NĐ-CP ngày 14 tháng 4 năm 2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định số 17/2012/NĐ-CP ngày 13 tháng 3 năm 2012 của chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Kiểm toán độc lập;

    b) Sử dụng nguồn ngoại tệ tự có trong trường hợp chuyển vốn đầu tư bằng ngoại tệ và không sử dụng nguồn vốn vay để đầu tư ra nước ngoài;

    c) Hoạt động kinh doanh có lãi trong 2 năm liên tiếp liền kề trước năm đầu tư. Kết quả hoạt động kinh doanh được xác định theo báo cáo tài chính hợp nhất của tổ chức kinh tế;

    d) Đã có ít nhất 2 dự án đầu tư ra nước ngoài có lợi nhuận chuyển về nước.

    5. Đối với các dự án không thuộc diện cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài, nhà đầu tư kê khai thông tin về dự án đầu tư, bao gồm cả cơ cấu vốn đầu tư (gồm vốn bằng tiền và tài sản) trên Hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư để được cấp mã số khai hồ sơ tự động trước khi thực hiện thủ tục đăng ký giao dịch ngoại hối theo quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối. Trường hợp dự án có nội dung thay đổi, nhà đầu tư cập nhật thông tin thay đổi trên Hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư.

    6. Trường hợp nhà đầu tư có nhu cầu cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài đối với dự án đầu tư quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều này, nhà đầu tư thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài.

    7. Trong trường hợp cần thiết, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có thể lấy ý kiến các cơ quan liên quan về hồ sơ đăng ký giao dịch ngoại hối liên quan đến hoạt động đầu tư ra nước ngoài. Cơ quan được lấy ý kiến có ý kiến trả lời Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong thời hạn 7 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản lấy ý kiến.

    8. Trường hợp dự án có mức vốn đầu tư ra nước ngoài không thuộc diện cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài khi điều chỉnh tăng vốn đầu tư dẫn đến dự án thuộc diện cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài thì phải làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài theo quy định của Nghị định này.

    Xem dịch vụ tư vấn đầu tư ra nước ngoài của Công ty Luật LAWPRO.

Bài viết cùng chuyên mục

Tham khảo thêm

HOTLINE