Cách xác định lãi suất, phạt vi phạm trong hợp đồng tín dụng và hợp đồng vay tài sản

  • Cách xác định lãi suất, phạt vi phạm trong hợp đồng tín dụng và hợp đồng vay tài sản
    16 Jun

    Cách xác định lãi suất, phạt vi phạm trong hợp đồng tín dụng và hợp đồng vay tài sản

    Trích Công văn 250/TANDTC-PC năm 2026 thông báo kết quả giải đáp trực tuyến vướng mắc trong công tác xét xử do Tòa án nhân dân tối cao ban hành.

    Hợp đồng tín dụng có thỏa thuận về lãi trong hạn, lãi quá hạn, phạt vi phạm trong trường hợp bên vay không trả nợ khi đến hạn. Vậy thỏa thuận về phạt vi phạm trong trường hợp này có phù hợp quy định của pháp luật không?

    Căn cứ quy định tại Điều 100 của Luật các tổ chức tín dụng (sửa đổi, bổ sung năm 2025); Điều 7, Điều 12 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; khoản 1 Điều 25, khoản 4 Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng nhà nước (được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Thông tư số 06/2023/TT-NHNN ngày 28/6/2023) quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng thì hợp đồng tín dụng có thỏa thuận về lãi trong hạn, lãi quá hạn, phạt vi phạm trong trường hợp bên vay không trả nợ khi đến hạn thì thỏa thuận phạt vi phạm là không phù hợp với quy định của pháp luật.

    Tuy nhiên, đối với hợp đồng vay dân sự thông thường mà không phải là hợp đồng tín dụng thì chưa có hướng dẫn cụ thể.

    Theo công văn 1746/2026 của Viện Kiểm sát tối cao hướng dẫn kiểm sát hoạt động xét xử.

    Điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm quy định: “Đối với trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng mà các bên có thỏa thuận về việc trả lãi thì quyết định kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật;...”. Như vậy, đối với vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng thì mức lãi suất nêu trên phải phù hợp với Bộ luật Dân sự hay Luật Các tổ chức tín dụng?[18]

    Trả lời:

    Khoản 2 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP quy định: “Mức lãi suất hai bên thỏa thuận” hướng dẫn tại khoản 1 điều này là mức lãi suất nợ quá hạn các bên thỏa thuận trong hợp đồng hoặc tại Tòa án. Trường hợp, các bên không có thỏa thuận về mức lãi suất nợ quá hạn thì mức lãi suất nợ quá hạn bằng 150% mức lãi suất trong hạn”.

    Điều 7 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP quy định về áp dụng pháp luật về lãi, lãi suất trong hợp đồng tín dụng như sau: “1. Lãi, lãi suất trong hợp đồng tín dụng do các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Luật Các tổ chức tín dụng tại thời điểm xác lập hợp đồng, thời điểm tính lãi suất. 2. Khi giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng, Tòa án áp dụng quy định của Luật Các tổ chức tín dụng, văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Luật Các tổ chức tín dụng để giải quyết mà không áp dụng quy định về giới hạn lãi suất của Bộ luật Dân sự năm 2005, Bộ luật Dân sự năm 2015 để xác định lãi, lãi suất”.

    Từ các quy định nêu trên, khi giải quyết vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng, Toà án phải áp dụng quy định của Luật Các tổ chức tín dụng, văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Luật Các tổ chức tín dụng để giải quyết. Đối với tranh chấp hợp đồng vay tài sản không phải là hợp đồng tín dụng thì áp dụng quy định về giới hạn lãi suất của Bộ luật Dân sự để giải quyết.

Bài viết cùng chuyên mục

Liên hệ với luật sư

HOTLINE